Rechercher dans ce blog

lundi 15 janvier 2018

nghĩ về tiếng Việt...


… rốt ráo, kết cục, sắn bìm, lánh nạn, đóng góp, giữ gìn, ba cõi, gốc tiếng, dâng cúng, chuyển dịch sai lầm, tròn đầy, nước hoa thơm, cái bình đựng nước, đồ đựng nước tắm, rửa ráy, hình dáng, giữ cho trong sạch, dùng riêng, ở giữa, ruôn sang, thay đổi, im lặng, sâu thẳm, mảy may, nồng cốt, nền tảng…

Đọc qua một loạt những hàng chữ trên đây, trích từ bản dịch tiếng Việt bộ Phật Quang Đại Từ Điển (*01),  thiệt mừng hết sức.

Sao vậy?

Thưa, xin so sánh với nguyên văn chữ Hán của những từ này:

rốt ráo <= tất cánh
kết cục <= tất cánh
sắn bìm <= cát đằng
lánh nạn <= tị nạn
đóng góp <= cống hiến
giữ gìn <= hộ trì
ba cõi <= tam giới
gốc tiếng <= ngữ căn
dâng cúng <= cung phụng
chuyển dịch sai lầm <= chuyển ngoa
tròn đầy <= viên mãn
nước hoa thơm <= hương hoa thủy
cái bình đựng nước (công đức) <= thịnh trang (công đức) thủy chi dung khí
đồ đựng nước tắm <= mộc dục chi khí
đồ <= khí
rửa ráy <= tẩy địch
hình dáng <= hình trạng
giữ cho trong sạch <= bảo trì thanh tịnh
dùng riêng <= chuyên dụng
ở giữa <= trung ương
ruôn sang <= di nhập
thay đổi <= giao hoán
im lặng <= mặc niệm
sâu thẳm <= u huyền
mảy may <= hào phát
nồng cốt <= cốt cán
nền tảng <= cơ sở

(cf. các mục từ: thú bác ca, át già, thiền tông, tào động tông)

Dịch một bộ sách Hán văn, dày 8000 trang, thuộc về những bộ môn tôn giáo, lịch sử, triết học, văn học, xã hội học… mà vẫn giữ được thần hồn tiếng Việt!


Dân ta, nhất là những người ở nước ngoài, từ 1975 trở đi, đều nhận thấy có một bước ngoặt trầm trọng trong cách dùng tiếng Việt ngày nay.

Thực vậy, hàng loạt những tiếng “khó hiểu" bỗng dưng léo nhéo trong câu nói mỗi ngày, ra rả trên ống loa, qua máy thâu thanh hay đài truyền hình,  tràn ngập sách vở báo chí, nghị quyết, điều luật, v.v.

Tạm xếp tiếng Việt “mới” này theo 3 loại:

1) những tiếng 100% Hán: xử lý, chất lượng, tham quan, hải quan, hộ khẩu, đăng kí, hộ chiếu, phản cảm, hoành tráng, hiện đại, tiêu chí, tranh thủ, khẩn trương, ngoại hình, ca từ, X quang, Xã Hội Chủ Nghĩa… (*02)
2) những tiếng ghép nối nửa ta nửa Tàu: da liễu, ùn tắc, ung bướu, siêu xe, chuyên sâu, căn hộ…
3) những từ “cũ” mà ý nghĩa biến đổi rất nhiều: vô tư, chân dài, đại gia…

Ở đây, chúng ta tạm xét các tiếng trong loại thứ nhất.

Loại tiếng này chiếm phần lớn trong tiếng Việt, tạm gọi là “tiếng Việt 1975”.

Vào khoảng hai ba chục năm sau biến cố tháng Tư 1975, người Việt lánh nạn Cộng Sản sinh sống ở nước ngoài, còn phản ứng mạnh mẽ (*03).  Nhưng từ chục năm gần đây, những từ mà người ta cho là “chướng tai” kia lại được nói, viết một cách rất “vô tư”!

Từ lâu tiếng Việt chịu ảnh hưởng sâu đậm của chữ Hán; nhà ngôn ngữ học Lê Ngọc Trụ đã “ước lượng” có tới hơn 50% từ ngữ tiếng Việt là gốc Hán (*04), nên có nhiều người nghĩ rằng sự việc dùng nhiều từ ngữ gốc Hán xưa nay chỉ là chuyện BÌNH THƯỜNG.

Tuy nhiên, xét kĩ các biến chuyển về tình hình chính trị nước nhà từ mấy chục năm nay, người ta phải biết rằng sự việc áp đặt những từ ngữ 100% Hán (Bắc Kinh, Trung Hoa Lục Địa) vào trong tiếng Việt, từ 1975, một cách ào ạt và có hệ thống: LÀ một chuyện KHÔNG BÌNH THƯỜNG, NẾU KHÔNG LÀ một mưu đồ xâm lược Việt Nam, qua ngả văn hóa (tiếng nói người dân) cùng lúc với những tiến công về 2 mặt kinh tế và quân sự.

Chữ Nôm xưa phát triển mạnh vào những thời kì dân tộc tự chủ tự cường (Trần, Lê, vua Quang Trung).

Nguyễn Trãi, tác giả
254 bài thơ chữ Nôm (Quốc Âm Thi Tập), đã soạn Bình Ngô Đại Cáo, mở đầu như sau:

Nước Việt ta từ trước, vốn xưng văn hiến đã lâu. Sơn hà cương vực đã chia, phong tục bắc nam cũng khác. Từ Đinh, Lê, Lý, Trần, gây nền độc lập; cùng Hán, Ðường, Tống, Nguyên, hùng cứ một phương. Dẫu cường nhược có lúc khác nhau, song hào kiệt đời nào cũng có.” (*05)

Trong cuộc đời lâu năm xa nước, mỗi ngày phải dùng ngôn ngữ nơi mình sinh sống, người ta dễ quên đi tiếng mẹ đẻ, buông xuôi dễ dãi nói và viết theo các bản tin trên Internet, báo chí, đài truyền hình… tiếp tục  rao truyền (vì thiếu ý thức hoặc nằm vùng cố ý tuyên truyền) cách ăn nói nô lệ tiếng Hoa.

Xin xem gương cách viết tiếng Việt trong bản dịch Phật Quang Đại Từ Điển ở đầu bài viết này.



Chú thích:

(*01) Sa môn Thích Quảng Độ dịch, Quê Mẹ & Phòng thông tin Phật giáo quốc tế xuất bản (2012)
(*02) Xem: http://tieng-viet-dtk.blogspot.fr/
(*03) Xem: http://www.vietthuc.org/roi-boi-chu-nghia/ &
https://www.facebook.com/notes/nguyen-huy/nỗi-buồn-tiếng-việt
(*04) BS Nguyễn Hy Vọng đã chứng minh là không phải như vậy. Xem: Từ Điển Nguồn Gốc Tiếng Việt (2013).
(*05)  http://hv-ebook-binhngodaicao.blogspot.fr/
















vendredi 15 septembre 2017

ùn tắc tiêu chí


"Đánh giá ùn tắc giao thông dựa trên tiêu chí kéo dài trên 30 phút mang tính chất định tính, chưa phù hợp với tình hình giao thông thực tế nên UBND TPHCM đề xuất bộ tiêu chí đánh giá mới."

Họ nói cái gì vậy cà? Chẳng lẽ phải theo lời ngài giám đốc VietNam Airlines về học lại tiếng Việt hay sao? (1) Mà sao lại lớ lớ như tiếng Bắc Kinh thế này!

"Ùn tắc", có chỗ viết "ùng tắc", biết là gì rồi, nghe mãi cũng phải quen đi chứ. Nhưng sao không nói là "kẹt xe" như ở Miền Nam trước đây, cho dễ hiểu một chút? Sao cứ phải "ùn tắc", "ùng tắc" hay là "ủng tắc 壅塞" như mấy người Tàu há?

Còn hai chữ "tiêu chí"? Lâu nay tràn lan như nấm dại, chẳng thua gì "xử lý" loạn cào cào.

Giám đốc Sở Giao thông vận tải TPHCM (2017) giải thích thêm ở dưới: "đó là tiêu chí đánh giá hiện nay về kẹt xe." (2) mà chẳng nói rõ gì hơn. Dù sao, cũng cám ơn ông đã dùng hai chữ "kẹt xe" thay vì "ùn tắc".

Thử tìm hiểu thêm về hai chữ "tiêu chí".

Gặp cái nhan đề to tướng như sau: "Bộ Giáo dục dự kiến 5 tiêu chí đánh giá sách giáo khoa." (3)

Đọc xuống đoạn dưới bài báo, có ông giáo sư nói thêm: "Ban thường trực đề án đổi mới giáo dục phổ thông đã đưa ra 5 tiêu chuẩn đề xuất đánh giá sách giáo khoa." (3)

À thì ra "tiêu chí" trong hai cái nhan đề ở trên chính là "tiêu chuẩn".

Nhưng đọc ở một chỗ khác, lại gặp câu sau: "Thủy Đông: Tập trung hoàn thành tiêu chí giao thông."  (4)

Xin đọc thêm: "Giao thông nông thôn là một trong những tiêu chí khó thực hiện của xã Thủy Đông, huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An trong xây dựng nông thôn mới. Hiện nay, xã tập trung nguồn lực để hoàn thành tiêu chí này."

"Tiêu chí" ở đây ý muốn nói cái gì cà?

Xem đây: "Phấn đấu năm 2019 đạt chuẩn xã nông thôn mới, vì vậy, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân xã Thủy Đông đang nỗ lực hoàn thành những mục tiêu đề ra." (4)

Hóa ra, "tiêu chí" cũng là "mục tiêu" các bạn ạ.

Tóm lại, tiêu chí = tiêu chuẩn = mục tiêu (5)

Còn mấy chữ "tính chất định tính" trong cái nhan đề thứ nhất nghĩa là cái gì vậy?


Xin hẹn lần khác.

Chú thích

(1) Cách đây mấy năm, trả lời phỏng vấn một kí giả đài BBC tiếng Việt, về một vụ lôi thôi tham nhũng gì đó, ông giám đốc VietNam Airlines đã mắng người kí giả không nói thạo tiếng Việt.
(2) http://vietnamnet.vn/vn/thoi-su/an-toan-giao-thong/tp-hcm-danh-gia-lai-tieu-chi-khong-co-un-tac-vi-xe-van-nhuc-nhich-370670.html
(3) https://vnexpress.net/tin-tuc/giao-duc/bo-giao-duc-du-kien-5-tieu-chi-danh-gia-sach-giao-khoa-3210592.html
(4) http://baolongan.vn/thuy-dong-tap-trung-hoa-n-tha-nh-tieu-chi-giao-thong-a37221.html

(5) http://tieng-viet-dtk.blogspot.fr/2016/02/nhan-oc-mot-ban-tin-tren-internet-suy.html
tiêu chí: Xem các từ điển quen thuộc cũ — như Hán Việt từ điển của Đào Duy Anh, Tự điển tiếng Việt của Hội Khai Trí Tiến Đức..., không thấy từ này. Tham khảo "Hán ngữ đại từ điển", "tiêu chí" có hai nghĩa: 1) Cột mốc, du hiu riêng bit, đc trưng; 2) Đánh dấu, nêu rõ, chng t, cho thy. Hai nghĩa này đều không thích hợp với từ tiếng Pháp "critères". Bản tin chữ Hán dùng từ "tiêu chuẩn" 標準 đúng nghĩa hơn. Như vậy, bản tin tiếng Việt đã lẫn lộn "tiêu chí" với "tiêu chuẩn". 

jeudi 7 septembre 2017

ô nhiễm Việt Nam


"Ô nhiễm môi trường là hiện tượng môi trường tự nhiên bị bẩn, đồng thời các tính chất vật lý, hóa học, sinh học của môi trường bị thay đổi gây tác hại tới sức khỏe con người và các sinh vật khác." (01)

Người Trung Quốc nói là "ô nhiễm
" hoặc "hoàn cảnh ô nhiễm " (dịch từ Anh ngữ hoặc Pháp ngữ: "pollution"). (02)


photo Internet

Tuần báo Paris Match số 3563 (31/08/2017 - 06/09/2017) vừa đăng tải một bài về nhà nhiếp ảnh Trung Quốc Lô Quảng 广 (sinh năm 1961). Kinh hồn!

Trong vòng mấy chục năm, Trung Quốc đã trở thành siêu cường kinh tế thứ nhì thế giới.

Với một giá quá đắt cho toàn thể dân tộc của họ: bây giờ Trung Quốc là một quốc gia ô nhiễm nhất trên thế giới ngày nay.

Những thành phố từ lâu không còn thấy ánh mặt trời, trong đó con người di động như những bóng ma, sông Dương Tử (lớn nhất Trung Quốc) chất đầy những chất hóa độc (kim loại nặng, kẽm, chì...), những khu làng ung thư mà người dân chỉ biết chờ chết trong đau đớn...

Lô Quảng từ năm 2005 cống hiến đời mình đi chụp hàng ngàn những bức hình chỉ nhìn qua cũng đủ lạnh mình.

photo Internet

Hỡi ơi, từ 1925 đến nay, ông Hồ Chí Minh và đồng bọn vẫn tin theo một ý thức hệ hoang đường, làm tay sai cho đàn anh Trung Quốc đại lục, làm tan hoang đất nước Việt Nam ta như thế đó.



 
Chú thích

(01) https://vi.wikipedia.org/wiki/Ô_nhiễm_môi_trường
(02) https://zh.wikipedia.org/wiki/污染


Tham khảo

Amazing Pictures, Pollution in China
http://www.chinahush.com/2009/10/21/amazing-pictures-pollution-in-china/#
https://baike.baidu.com/item/卢广
http://smithfund.org/recipients/2009-lu-guang

ô nhiễm Việt Nam
https://www.youtube.com/watch?v=JLCxOcnrs8I
https://www.youtube.com/watch?v=WjIOCl3e5ec






vendredi 24 février 2017

Giới thiệu ebook song ngữ Hán Việt Tây Sương Ký 西廂記 Mái Tây


Tác giả: Vương Thực Phủ 王實甫, người dịch: Nhượng Tống

Lần đầu được nghe tên tác phẩm Tây Sương Ký là nhờ đọc bản Truyện Kiều do Bùi Kỷ & Trần Trọng Kim hiệu đính và chú giải, với những câu thơ bát ngát của Nguyễn Du.

Thí dụ:

Tiếng sen sẽ động giấc hòe,
Bóng trăng đã xế hoa lê lại gần.


hoặc là:

Bây giờ rõ mặt đôi ta,
Biết đâu rồi nữa chẳng là chiêm bao?


hoặc là:

Người lên ngựa kẻ chia bào,
Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san.


Tình cờ một hôm vào năm 1983, tôi mua được một bản Mái Tây ở tiệm tạp hóa Pacific của một người lánh nạn cộng sản ở Franconville (Val d'Oise, France). Gần mười năm sau biến cố Tháng Tư, 
tâm thần người Việt còn dao động mạnh. Và nhu cầu tìm đọc sách báo tiếng Việt rất lớn.
Tự nó, bản dịch Mái Tây đã là một áng văn chương lai láng khôn hàn: 


Non xanh chẳng nể nang nhau,
Rừng xanh thôi cũng ra mầu khẩy trêu!
Mịt mùng sương bạc khói chiều,
Người đi ta biết trông theo lối nào?
Lên xe mà dạ xôn xao,
Về sao chậm chạp? Đi sao vội vàng?
Tà tà bóng ác xuyên ngang,
Nào nghe người nói, trên đường cái quan.
Mông mênh đồng lúa xanh rờn,
Còn nghe ngựa thét trong làn gió thu!


Nhưng gần đây, bỗng dưng tôi lại muốn tìm bản Hán văn đọc thử và so sánh với bản dịch của Nhượng Tống xem sao.

Hình như mấy câu thơ của Vương Thực Phủ trích dẫn trong cuốn Truyện Kiều nói trên cứ mãi vi vút trong đầu.

Chẳng hạn:

Dữ ngã thật thị minh bạch, an tri bất thị mộng trung lai 與我實是明白, 安知不是夢中來.

Thời điện tử Internet, điều đó chẳng khó gì, có cả hàng chục trang web cho đọc tự do, cả bằng tiếng Hán và tiếng Việt.

Thật bất ngờ, lần này tôi phát hiện một số từ ngữ (trong bản dịch của Nhượng Tống) hơi khó hiểu, mà trước đây không hề để ý. Chúng tôi cố gắng chú thích những từ ngữ này, dựa theo bản Hán văn và những tham khảo trên Internet.

Ngoài ra, dò theo cuốn sách tiếng Việt có sẵn, tôi cũng nhận ra một tình trạng bê bối trong các văn bản tiếng Việt: đầy những lỗi sao chép, nếu không là những sửa đổi bừa bãi (*01).

Bản song ngữ Hán Việt (*02) giới thiệu ở đây làm theo dạng hv-ebook, nghĩa là người đọc, khi cần, có thể click lên mỗi một chữ Hán trong trang blog để dẫn tới trang giải thích tương ứng trong http://www.vietnamtudien.org/hanviet/ (*03).

Bây giờ mới thật hiểu lòng ông Thánh Thán đã xếp cuốn Tây Sương Ký vào Lục tài tử thư Trung Quốc.

Và càng đọc bản dịch "phi phàm" (*04) của Nhượng Tống, lại càng xót xa cho nền văn học nước nhà. Từ cuộc Cách mạng mùa Thu, bao nhiêu thiên tài dân tộc (Khái Hưng, Nhượng Tống, Văn Cao, Vũ Hoàng Chương, ...) — nếu không bị sát hại thì cũng bị trù giập tàn tệ suốt đời.



Chú thích

(*01) Tình trạng ấn hành cẩu thả những tác phẩm văn học vẫn đầy dẫy trên thị trường sách báo từ 1975 cho đến bây giờ. Hãy so sánh các bản in những bộ sách trước và sau 1975. Chẳng hạn: Xứ Trầm Hương của Quách Tấn, Thiền Luận (3 cuốn) của Suzuki,  Mái Tây (Nhượng Tống dịch), v.v.
(*02) http://hv-ebook-taysuongki.blogspot.fr/
(*03) Xem http://hv-ebook-thuquan.blogspot.fr/2014/09/hv-ebook-la-gi.html
(*04) Chữ của Bùi Giáng, Đi vào cõi thơ (trang 74), Ca Dao xuất bản, Saigon 1969.







vendredi 30 décembre 2016

selfie tự sướng


"Nhân nói chữ selfie, ở VN bây giờ người ta dùng chữ tự sướng cho selfie, các anh nghĩ sao?"
Selfie, ở "thời đại số mã" (1) thì ai mà chẳng nghe nói tới. Và trong những dân ồn ào nhất trên thế giới về chuyện này, có lẽ phải kể đến dân Tàu. Cứ xem hàng đàn hàng lũ du khách Trung quốc đến những thành phố lớn như Paris, Roma, New York..., lúc nào cũng lăng xăng đem máy điện thoại cầm tay (mobile phone, smartphone) cùng "gậy gộc" (2) ra "tự phách" (3) lia lịa thì đủ hiểu hiện tượng selfie nó lan tràn dữ dội như thế nào.

"Tự phách" 自拍 (tự chụp hình) là cách người Tàu dịch chữ "selfie". Người Pháp đã dịch rất hay nhiều từ ngữ điện toán & Internet từ tiếng Anh sang tiếng nói của họ; chẳng hạn, "computer" dịch thành "ordinateur", "software" dịch thành "logiciel", v.v. Nhưng họ vẫn giữ nguyên văn cho chữ "selfie".

Bởi cơn cớ nào, người Xã Hội Chủ Nghĩa, từ nhiều năm qua cứ răm rắp bưng "nguyên con" tiếng Tàu về thay tiếng Việt, lần này lại dịch cắc cớ "selfie" thành "tự sướng"???

Dịch "selfie" thành "tự sướng" có ít nhất hai điều không ổn.

Thứ nhất, selfie không hề mang nghĩa "sung sướng" gì cả.

Thứ hai, "tự sướng" đã dùng để dịch từ tiếng Hán "thủ dâm" (tiếng Anh "masturbation").

Ấy thế mà người ta mỗi ngày cứ nói xa xả trên cửa miệng và viết hà rầm đầy báo chí.

Gõ hai chữ "tự sướng" vào khung tìm chữ Google: khoảng 664 000 kết quả (trong 0,51 giây đồng hồ); gần như 100% kết quả là dùng theo nghĩa "selfie".


Thật không hiểu nguyên do nào mà người ta lại dịch ra như vậy.

Hay cũng chỉ vì nô lệ thói cũ, từ hai chữ "thủ cơ" (4) của Tàu (dịch tiếng Anh: portable telephone, mobile phone), người Xã Hội Chủ Nghĩa lạng quạng với hai chữ "thủ dâm" (4), rồi dịch lẫn lộn thành "tự sướng" chăng?


Chú thích

(1) số mã thì đại 数码时代
(2) selfie stick
(3) tự phách 自拍
(4) thủ cơ 手機, thủ dâm 手淫.
















lundi 26 septembre 2016

người lấy phân, đọc lại một bài thơ của Tú Xương



Người lấy phân
Planche 34, Henri OGER, "Techniques du peuple Annamite",
Ed. 2009, Olivier Tessier & Philippe Le Failler.


Phường nhơ

Bấy lâu chơi với rặt phường nhơ,
Quen mắt ưa nhìn chả biết dơ.
Nào sọt, nào quang, nào bộ gắp,
Đứa bưng, đứa hót, đứa đang chờ.
Mình hôi mũi ngạt không kỳ quản,
Áo ấm cơm no vẫn nhởn nhơ.
Ngán nỗi hàng phường khi cúng tế,
Vẽ ông ôm đít để lên thờ!


Trần Tế Xương (1870-1907)

Bối cảnh lịch sử của bài thơ là nền thống trị của thực dân Pháp trên đất nước Việt Nam. Bài thơ mô tả cuộc sống cụ thể của một hạng dân bần cùng thời đó: những người lấy phân. Hệt như bức vẽ trong sách của Henri OGER:

"Nào sọt (để đựng phân), nào quang (gánh), nào bộ gắp (phân),"

Nhưng bức vẽ trong sách của Henri OGER chỉ ở trong trạng thái tĩnh. Câu thơ sau của Tú Xương là một bức tranh sống động (dessin animé):

"Đứa bưng (sọt), đứa hót (phân), đứa đang chờ (người ta ỉa xong và tới phiên mình hót cứt)."


Chẳng riêng gì Hồ Xuân Hương, Trần Tế Xương xứng danh là một Chúa thơ Nôm.

Đây là một bài thơ nhằm đả kích bọn người bẩn thỉu trong buổi giao thời hơn 100 năm về trước. Phường nhơ, hay những người lấy phân, ám chỉ Vũ Tuân đang cậy cục Hoàng Cao Khải để được bổ làm quan.

"Ngán nỗi hàng phường khi cúng tế,
"Vẽ ông ôm đít để lên thờ!"

"Ôm đít": nghĩa là "làm động tác đi đại tiện", hay là "xun xoe hầu hạ làm tay sai cho Tây".

Về hai câu kết này, nhà thơ thuật lại với bạn là Trần Tích Phiên rằng, khi đó ông nghĩ đến Hoàng Cao Khải, đang bắt dân thờ làm thành hoàng sống làng Thái Hà, Hà Nội. (1)

Đọc lại bài thơ không khỏi bàng hoàng.

Không cần đổi một chữ, bài thơ viết ra hơn một trăm năm trước, dưới nền thống trị của thực dân Pháp, về những bọn tay sai cho Tây giày xéo đất nước, bây giờ lại chỉ thẳng vào Việt Nam Xã hội Chủ nghĩa, với bầy khuyển mã đang rập rình dâng lên phương Bắc dải đất quê hương.


Chú thích

(1) https://vi.wikipedia.org/wiki/Tú_Xương








mercredi 21 septembre 2016

2017 giáo dục phổ thông môn tiếng Nga và tiếng Trung


Một bản tin ra ngày Chủ nhật, 18/9/2016 trên trang web vnexpress.net (1) vừa cho biết:

"Bộ Giáo dục xây dựng chương trình giáo dục phổ thông môn tiếng Nga, tiếng Trung từ lớp 3 đến lớp 12 và sẽ thí điểm dạy như ngoại ngữ thứ nhất vào năm học tới."

Ngay hôm sau, cũng trên trang web này, người ta đọc bài biện minh (2) cho chính sách giáo dục mới như sau:

"Vì sao nên dạy tiếng Trung và tiếng Nga?
Trung Quốc có nền kinh tế đứng thứ hai thế giới, sử dụng được tiếng Trung là tiếp cận được với thị trường rộng lớn bao gồm Trung Quốc và cộng đồng người Hoa tại các nước Singapore, Malaysia…
(...)
Nước Nga với vị thế quân sự đứng thứ hai thế giới và nền kinh tế đứng thứ 9 thế giới, với những thành tựu to lớn trong khoa học kỹ thuật, với truyền thống hợp tác và mối quan hệ gắn bó lâu năm với Việt Nam, vậy có nên dạy tiếng Nga hay không?
"


Học hỏi, trong tinh thần tự do chọn lựa, để mở mang tiến bộ; biết tổ chức việc dạy dỗ cho hiệu quả; những cái đó khỏi phải nói chi nhiều.

Thế nhưng,

> trong bối cảnh tranh chấp biển đảo giữa Trung Quốc và các quốc gia vùng biển Đông (trong đó có Việt Nam) từ nhiều năm nay;
> trước hiểm họa Bắc thuộc ngày càng rõ rệt (3);
> trước những diễn biến tranh đoạt quyền chính Nhà nước Việt Nam trong những năm tháng gần đây (thân Tàu, thân Nga, thân Mỹ) ...

Người dân rất ngờ cho sự chân thành của những chiêu bài (chương trình giáo dục) mới này.

Người ta cũng không quên rằng:

"Cùng lượt với sự thay đổi chế độ chính trị, hàng loạt những từ ngữ khuôn sáo vay mượn của người Trung Quốc đã xâm nhập vào trong tiếng nói người Việt. Đây là vài thí dụ trong những "từ mới vay mượn" này:  xử lý 處理, nhất trí 一致, hộ khẩu 戶口, xử trí 處置, chất lượng 質量, tập đoàn 集團, đăng ký 登記. Những từ này, trước 1975, người dân miền Nam "cũ" thường không biết tới, hay ít ra không hề dùng đến một cách máy móc tràn lan như bây giờ. Sự biến đổi này đâu phải tình cờ. Nó là hậu quả của một chính sách rập khuôn theo Trung Quốc ngày nay: 

a) chính trị độc tài xã hội chủ nghĩa, 
b) kinh tế thị trường trong vòng kiểm soát của Nhà nước." (4)

"Rõ ràng, đây là chủ trương đng hóa tiếng Việt theo tiếng Hoa. Nó mang ý đồ thâm độc của thực dân kiểu mới, dùng sức ép kinh tế không cần tới súng đạn, dùng ngôn ngữ văn hóa xâm nhập vào tận đầu óc người dân bị trị." (5)



Ghi chú

(1) http://vnexpress.net/tin-tuc/giao-duc/bo-giao-duc-thi-diem-day-tieng-nga-trung-quoc-3470109.html
(2) http://vnexpress.net/tin-tuc/giao-duc/vi-sao-nen-day-tieng-trung-va-tieng-nga-3470656.html?utm_source=detail&utm_medium=box_topic&utm_campaign=boxtracking
(3) Lá Thư của Hồng Thuý viết từ Hưng Yên về thảm hoạ Hán hoá Việt Tộc, PDF: http://tinyurl.com/hzh3rxy
(4) http://tieng-viet-dtk.blogspot.fr/2012/06/vi-sao-co-blog-nay.html
(5) http://tieng-viet-dtk.blogspot.fr/2012/06/ba-chieu-huong.html